Saturday, April 4, 2015

NGƯỜI KHỔNG LỒ MẮT XANH



    Truyện ngắn. Thái Bá Tân

Một lần đến chơi nhà người quen, ngẫu nhiên ông đọc được bài thơ đó trong một cuốn tạp chí cũ. Dọc xong, ông ngồi thừ người hồi lâu, lưng tựa vào chiếc ghế bành bọc da, hai tay đặt ngay ngắn trên đầu gối, mắt nhắm chặt, đến mức chủ nhà hoảng hốt tưởng khách đột tử vì nhồi máu cơ tim, chứng bệnh ông mắc hai mươi năm nay và theo lời bác sĩ thì có thể chết bất cứ lúc nào.
  Bài thơ của một tác giả nước ngoài, có đầu đề “Người khổng lồ mắt xanh”. Toàn bộ chỉ thế này:

Có một người khổng lồ mắt xanh
        Yêu một người đàn bà bé nhỏ.
        Người đàn bà chỉ mơ ước làm sao
        Có ngôi nhà xinh xinh
        Cùng giàn hoa bên cửa sổ.

        Người khổng lồ yêu theo cách khổng lồ,
        Và làm việc, quen làm điều to tát,
        Nên đã không xây tặng người yêu
        Một ngôi nhà con con
        Cùng giàn hoa râm mát.

        Có một người khổng lồ mắt xanh
        Yêu một người đàn bà bé nhỏ.
        Người đàn bà đi theo chàng, mỏi chân,
        Muốn ngồi nghỉ trong vườn đâu đó.

        Rồi nàng nói với đôi mắt xanh:
        “Chào vĩnh biệt!”
Một người lùn tử tế
        Dẫn nàng vào một ngôi nhà xinh xinh
        Cùng giàn hoa nhỏ bé.

        Giờ thì chàng khổng lồ hiểu ra
        Rằng tình yêu khổng lồ chàng có
        Không đủ chỗ cho ngôi nhà con con
        Cùng giàn hoa bên cửa sổ.

Bài thơ khiến ông nhớ lại quá khứ, cái quá khứ xa xăm tưởng như không có có thật. Hơn thế, ông ngạc nhiên thấy như nó phần nào nói về chính mình.
Ông không là người khổng lồ, tất nhiên, mắt cũng chẳng xanh mà xám nhạt, khác màu mắt người Á đông. Có thể khi nhìn cái gì đó màu xanh, nó có màu xanh thật. Năm 1942, đang theo học năm cuối khoa triết trường Sorbonne ở Paris, ông yêu một cô gái, cũng người Việt, học môn canh nông nhưng sau ông hai lớp. Lúc ấy cô có dáng người nhỏ bé, nhí nhảnh và cũng xinh. Ba năm sau, theo tiếng gọi của tổ quốc, cả hai trở về Hà Nội tham gia xây dựng chế độ mới. Rồi kháng chiến, họ cùng lên chiến khu và chẳng bao lâu sau thì hai người chia tay. Chủ yếu do bà.
Không phải vì ông không xây được cho bà “một ngôi nhà con con cùng dàn hoa bé nhỏ”. Việt Bắc không phải Paris, không ai có lương và cũng không có nhu cầu xây một ngôi nhà như thế. Bà biết nên chẳng trách ông điều ấy. Tuy nhiên vì tình yêu, bà theo ông về Việt Nam, bỏ lại mọi tiên nghi ở thủ đô để lên đây. Vì vậy bà nghĩ bà có quyền đòi hỏi ở ông một tình yêu tận tụy, đời thường, qua những cử chỉ chăm sóc nhỏ nhặt và thường nhật, là cái ông không có và cũng không muốn có, dù rất yêu bà, vì dẫu không là người khổng lồ nhưng ông luôn bận “làm những điều to tát”. Ông nghiên cứu triết học, từ triết học cổ Hy Lạp đến những trường phái phương Tây hiện đại nhất. Triết học phương Đông mãi sau này ông mới quan tâm. Kháng chiến thời đó chưa cần những nghiên cứu trừu tượng vô bổ ấy, nên dễ hiểu vì sao người ta không đánh giá cao ông ngoài cái danh “trí thức Việt Kiều yêu nước”.
Chẳng có “người lùn tử tế” nào đến “dẫn bà đi”. Đúng hơn, bà đi theo ông ta, một chính ủy sư đoàn cao to có nước da ngăm đen của người nông dân vùng chiêm trũng Hà Bắc. Khi về tiếp quản Thủ Đô năm 1955, hai người nghiễm nhiên được vào ở một trong những ngôi nhà đẹp nhất khu Ba Đình, một ngôi nhà lớn có vườn rộng, hai tầng, nhiều cửa sổ và cửa sổ nào cũng có hoa. Sau này ông chồng làm tới cấp tướng, còn bà khi về hưu là vụ trưởng một bộ quan trọng, nếu không vì tuổi tác có thể còn được đề bạt thành thứ trưởng.
Vậy là gần sáu mươi năm đã trôi qua kể từ ngày ấy. Ông nay đã tám mươi hai tuổi nhưng còn minh mẫn và khỏe mạnh và vẫn một mình sống trong căn phòng tập thể mười lăm mét vuông ở phố Hàng Chuối, vẫn “làm những điều to tát” là nghiên cứu triết học, khác chăng, bây giờ ông đã nổi tiếng không chỉ trong mà cả ngoài nước.
Mấy chục năm gần đây ông còn thêm một đam mê mới là nhạc cổ điển. Chắc cả nước không ai có được bộ sưu tập đĩa lớn như ông, biết nghe nhạc nghiêm túc và bài bản như ông. Như trong triết học, ông thích lối tư duy âm nhạc vừa khô khan triết lý nhưng cũng vừa lãng mạn, kịch tính của người Đức. Hiện ông đang ngất ngây sống trong những bản giao hưởng dài lê thê và khó hiểu của Gustav Mahler, môn đệ của Richard Wagner, người ông mê đến mức nhờ hiệu phóng to ảnh treo ngay đầu giường. Thành ra trái tim của ông dẫu to lớn và đầy cảm xúc nhưng đã quá chật vì Socrat, Platon, Kant, Nieztsche... bây giờ thêm cả Beethoven, Schubert, Wagner và Mahler nên không còn chỗ trống cho “người đàn bà bé nhỏ” nào nữa.
Thực ra xưa nay ông cũng không cần họ, không nghĩ nhiều tới họ. Thế mà đọc bài thơ này, bỗng nhiên như có cái gì đó khang khác trong người. Một sự ủy mị mơ hồ. Đầu óc duy lý, rành rọt của ông bỗng trở nên mờ mịt, lẫn lộn...

                                              * 
Nó mờ mịt, lẫn lộn đến mức chẳng vì cớ gì, ông thong thả chống gậy đi tới khu phố có ngôi nhà “con con” mà “người đàn bà bé nhỏ” ngày nào của ông đang sống.
Cạnh đấy có một vườn hoa. Ông ngồi xuống chiếc ghế đá đối diện, lơ đãng nhìn ngôi nhà.
Vị tướng già (người lùn) đang vừa sưởi nắng vừa ngủ gật trên ban công tầng hai, bên bụi hoa giấy màu đỏ gắt dưới ánh nắng vàng hoe buổi chiều, mái tóc bạc lơ thơ xõa kín mặt. Chốc chốc ông ta lại giật mình ngồi thẳng người để đầu khỏi va vào thành lan can, nơi chắc có dính một ít nước dãi đang ri rỉ từ khóe miệng.
Người đàn bà bé nhỏ” của ông lúc ấy vừa đi chợ về, tay xách chiếc làn vải nhựa nặng cáu bẩn. Một bà già chẳng bé nhỏ chút nào. Người thấp lùn, dáng ục ịch, vừa đi vừa thở khò khè vì chứng bệnh hen xuyễn. Đôi má xệ, mắt hơi lồi. Hơn thế, ăn mặc cũng chẳng lấy gì làm trau chuốt. Vài năm một lần, ông ngẫu nhiên gặp bà ngoài phố. Chỉ gật đầu chào chứ chẳng bao giờ dừng lại nói chuyện. Bà là người nhỏ nhen, thậm chí độc ác. Thời ở chiến khu bà từng xúi người ta đấu ông về tội “tiểu tư sản”, “mất lập trường”. Sau này bà còn nhiều lần tìm cách hại ông vì những lý do sâu xa nào đấy không ai hiểu. Nhưng vì luôn bận với những ý tưởng cao siêu của mình nên ông không quan tâm mà cũng chẳng giận. Ông chỉ thấy lạ lùng và khó chịu khi nghĩ đã có thời ông từng yêu người đàn bà này.
Lát sau có tiếng ai mắng chửi the thé vang lên từ trong nhà. Rồi một con bé chay ra, bà già kia cầm ngược cán chổi đuổi theo.
“Mày cút mẹ về nhà quê mày đi! Dám nhân lúc tao đi vắng ăn cắp những hai mươi nghìn đồng! To gan thật! Liệu trả lại cho tao không thì tao đuổi. Đuổi về với thằng bố, con mẹ mày!”
Tự nhiên ông thấy buồn, lờ mờ nhớ lại những buổi chiều hai người cầm tay nhau dạo chơi trên bờ sông Seine hoặc vào bảo tàng Louvre.
Con bé nhà quê chừng mười một, mười hai tuổi. Nó đang thút thít khóc, lí nhí kêu oan. Có lẽ nó bị oan thật và đang lo mất việc.
Ông ra hiệu gọi nó lại gần, rút ra tờ một trăm nghìn đồng còn mới.
“Cháu mang vào đưa cho bà ấy. Bảo có ông bạn cùng ở Paris ngày xưa  cho để đền cho bà.”
Con bé lưỡng lự một chốc rồi cầm tờ giấy bạc chạy vào nhà.
Không còn nghe tiếng chửi. Bà kia cũng chẳng bước ra khỏi nhà, chí ít để tò mò nhìn lại “người khổng lồ” của mình. Mặt trời khuất sau rặng cây. Vị tướng già thấy hết nắng, đã vào giường ngủ từ lúc nào.
Chẳng còn gì để nhìn, để nghe, nhưng ông vẫn ngồi yên trên ghế đá. Đúng là ông già thật rồi, tâm trí mụ mị, lẫn lộn. Trong đầu ông cùng một lúc vang lên giai điệu bè vi-ô-lông cao tinh khiết đến mức thần thánh trong bản Ouverture vở ôpêra Lohengrin của Wagner (nhiều lần ông đã quì xuống, rơm rớm nước mắt khi nghe bản nhạc này), tiếng chửi the thé của bà già kia, và cả tiếng thút thít của con bé tội nghiệp.
Ông lú lẫn đến mức không hiểu vì trái tim ông quá lớn hay quá bé mà không chứa nổi ngôi nhà có nhiều hoa trước mặt cùng bà già chủ nó. Mà nó “con con” hay to lớn nhỉ?  Và ông là người khổng lồ hay anh lùn?
Trong tâm trạng mập mờ lẫn lộn như thế, ông ngả người lên thành ghế và ngủ thiếp. Cũng có thể ông đã chết vì mãi rất lâu không thấy ông động đậy...
                            
                                                        Hà Nội, 18. 7. 2003

NGƯỜI ĐÀN BÀ TRÙM KHĂN ĐEN


Truyện ngắn. Thái Bá Tân

Cảnh thật buồn và ảm đạm. Khu đồng Mồ những ngày cuối năm nước cạn, không trong cũng chẳng ra đục, cứ lờ lờ một màu vô cảm. Ruộng có nơi chưa cấy, chỏng chơ những mô đất nhỏ, có nơi mới cấy xong lúa chưa bén rễ, vàng úa như những sợi râu ngô héo. Trên bờ đê con mương dẫn nước từ đập Xuân Dương về chỉ lèo tèo vài con bò đang gặm cỏ, nếu còn có cỏ để gặm. Vì cỏ ít trâu bò nhiều nên thân đê từ lâu bị bào mòn, không xanh mà bạc thếch.
Đã bắt đầu nhá nhem. Bầu trời u ám, không mưa nhưng ẩm lạnh và vì là nơi đồng trống nên gió khá mạnh. Làng Xuân Tình gần nhất cách chưa đầy cây số bây giờ chỉ là một vệt mờ mờ, còn xã Diễn Thọ phía Tây thì từ lúc nào đã chìm trong sương mù.
Ở một trong vô số vũng nước nông dọc bờ đê, lão Mục đang hý hoáy mò tôm, những con tôm chỉ bé bằng đầu đũa. Vũng nước được tát cạn, những gì nổi phía trên lão đã nhặt hết, bây giờ mò bắt những con khôn ngoan lẫn dưới lớp bùn nhẽo. Chiếc giỏ rộng miệng không đeo bên hông mà để trên bờ, thỉnh thoảng lão ném vào một con gì đấy mới mò được, có khi cả bùn. Lão thầm ngạc nhiên ở đây còn tôm cá cho lão bắt. Lão là người đánh dậm chuyên nghiệp, nghĩa là chỉ sống bằng cái nghề ấy. Lão sống một mình trong trạm bơm bỏ hoang sát Kênh Nhà Lê vốn là nơi làm ăn chính của lão. Mấy hôm nay nước lớn, lão ngược lên mạn trên rồi tình cờ phát hiện những vũng nước này. Lão không có khái niệm về thời tiết hoặc tâm trạng vui buồn. Thời gian cũng chẳng mấy khi được lão nghĩ đến. Chỉ cần đâu có cá là lão tới, tranh thủ bắt càng nhiều càng tốt. Hôm qua lão được cả giỏ đầy. Hôm nay cũng khá, đáng lẽ có thể về rồi nhưng vì tham nên lão cứ nấn ná bắt thêm. Lão không lo nhỡ chợ vì bất kỳ lúc nào cũng có thể đem hàng bán cho mụ Thắm ở làng Song Yên bên kia đường tàu, dù mụ này láu lỉnh thường bắt bí ép giá lão.
Cứ thế lão Mục cắm cúi bới bới hai bàn tay già nua nhăn nheo trong lớp bùn nhẽo, không để ý trời đang tối dần và đã bắt đầu xuất hiện những giọt mưa li ti trên mái tóc rối bạc quá nửa. Lão đang nghĩ về việc tối nay có tiền không chỉ đủ mua xịn rượu loại ngon mà còn cả ít dồi chó ở quán cạnh chợ Hôm. Lão hay rượu, chưa đến mức nghiện nặng nhưng thích uống và uống luôn. Thường đi đâu lão cũng giấu một be nhỏ trong túi, thỉnh thoảng tu một ngụm. “Đời có tí chất cay mới gọi là đời, không thì sống làm đếch gì,” lão thường tự an ủi như vậy. Đang lúc rửa qua một tay định cho vào túi lấy be rượu thì lão bỗng cảm thấy như có ai đứng trên đê chăm chú nhìn mình. Không ngước lên nhưng lão biết. Ai ấy nhỉ?
Đó là một người đàn bà còn trẻ đầu trùm chiếc khăn đen chỉ chừa lại khuôn mặt. Một khuôn mặt khá xinh nhưng nhợt nhạt đến trắng bệch. Thực ra cô ta không nhìn lão Mục mà nhìn giỏ cá. Chỉ lặng lẽ đứng nhìn. Lão cũng im, phần vì đớ ra chẳng biết nói gì. Về khoa nói lão vốn rất kém và rất ít nói. Trời chưa tối hẳn nên lão nhìn thấy rõ đôi mắt cô ta mở to, mũi nhọn, hai má hơi hóp, dấu hiệu rõ ràng của sự đói ăn lâu ngày. Cô ta gầy, lão biết chắc như thế qua làn áo ẩm ướt cũng màu đen bám sát người. Gầy đến mức lão có cảm giác nếu gió thổi mạnh, cô ta có thể bay lên không và biến mất. Có phải vì gầy và nhẹ như chiếc bóng nên cô ta đến đứng cạnh từ lâu mà lão không biết chăng?
Người đàn bà trẻ nhìn vào miệng chiếc giỏ, nơi một vài con tôm đang ngọ nguậy, rồi quay sang phía lão Mục. Qua vẻ cầu xin trong đôi mắt đẫn đờ ấy, lão hiểu. Cô ta muốn xin một ít. Xưa nay chẳng bao giờ chịu cho không ai cái gì, thế mà bây giờ không hiểu sao lão suy nghĩ một chốc rồi gật đầu. Cô kia vẫn đứng im. Lão gật đầu lần nữa, thầm ngạc nhiên về sự hào phóng của mình. Chỉ lúc ấy cô mới cúi xuống bốc một ít cho lên lòng tay. Chỉ một ít thôi và lão Mục lấy thế làm mừng. Cô nhìn lão với ánh mắt biết ơn rồi lặng lẽ bước nhanh về phía làng Xuân Tình. Tiếng chân cô khẽ đến mức lão có cảm giác như không phải bước mà đang lướt bay trên mặt đường. Lão cũng chẳng nói gì, chỉ đứng ngây, nhếch mép cười một cách đần độn.
Khi người kia biến mất trong làn sương mù lúc này đã dày đặc, lão rửa tay xách giỏ ra về, quên cả ngụm rượu định uống. “Còn trẻ thế mà đi ăn xin, thật không biết xấu hổ!” lão lẩm bẩm một mình, không hẳn vì tiếc mấy con tôm cá. Trong giỏ còn nhiều chán. Lão chỉ thấy hơi kỳ kỳ thế nào. Đây là lần đầu có người xin lão, bình thường thì bao giờ người ta cũng mua, mặc cả từng xu một nhưng mua chứ không xin.
Trời tối hẳn. Mưa bắt đầu nặng hạt. Chợt thấy lạnh và đói, lão rảo bước đi nhanh về phía làng Song Yên, vẩn vương suy nghĩ về điều vừa xẩy ra, nhưng rồi cuối cùng trong đầu chỉ còn lại mụ Thắm và chai rượu nhờ mụ mà có.
Kênh Nhà Lê nước còn lớn, nên hôm sau lão Mục lại đến đồng Mồ, cũng ở đoạn đê này, chỉ vũng nước khác. Lão luôn đi làm vào buổi chiều, vì sáng dậy muộn, lại kề cà thuốc nước và kiếm cái nhét vào bụng. Bầu trời vẫn u ám, lất phất mưa như hôm qua. Và rồi khi chạng vạng tối, người đàn bà kia lại đến, đến lúc nào lão không hề biết. Cô ta lặng lẽ nhìn giỏ cá rồi nhìn lão. Cũng cái nhìn van xin ấy. Đôi mắt mở to có vẻ như sâu hơn, mặt nhợt nhạt hơn, người vốn đã gầy giờ càng gầy hơn, đến mức trông chỉ còn như chiếc bóng. Lão Mục thoáng bối rối. Lão định quát to đuổi đi, vì suy cho cùng lão còng lưng cả ngày thế này đâu phải để đem cho người khác. Thậm chí lão còn định mắng nhiếc vài câu về cái thói trơ trẽn ngửa tay ăn xin. Thế mà lão cứ nhìn trân trân như bị thôi miên. Trái tim cằn khô của lão tự nhiên mềm ra, có cái gì đấy rân rân nơi cuống họng. Lão không biết chuyện gì đang xẩy ra với mình, chỉ thấy buồn. Cuối cùng, như cái máy, lão khẽ gật đầu. Cô kia cúi xuống, lấy ra ít cá, đúng bằng hôm qua, vội vã đi về phía làng Xuân Tình và chẳng bao lâu sau thì biến mất.
Việc này còn lặp lại mấy lần nữa. Vẫn cái giờ ấy cô ta tìm đến, dù lão Mục đã cố tình chuyển đi chỗ khác xa hơn một chút. Cả hai vẫn chẳng ai nói với ai câu nào. Kể lão Mục cũng muốn bắt chuyện nhưng không nói lên được. Bây giờ thì lúc nào lão cũng bị ám ảnh bởi người đàn bà trùm khăn đen bí ẩn ấy. Lão thử hình dung đủ chuyện mà cuối cùng vẫn chẳng đi đến đâu. Nhưng hôm nay thì lão đã có một ý định, có thể nói là kế hoạch được trù tính kỹ từ trước. Lão sẽ lén theo về nhà cô ta xem thế nào. Chỉ tò mò thôi chứ chẳng vì lý do nào khác. Không là người thông minh, nhưng việc này thì chắc lão làm được, làm khéo nữa là khác.
Lão thấy lạ là dù đã đi rất nhanh, gần như chạy mà vẫn không theo kịp người kia. May không bị mất hút vì xung quanh chỉ toàn đồng trống. May nữa là cô ta không một lần ngoái lại nên không biết có người đi theo. Cũng có thể biết nhưng giả vờ không.
Tới đầu làng Xuân Tình, người đàn bà trẻ rẽ vào một ngôi nhà tranh có chuối mọc um tùm bao quanh. Làng này người ta trồng nhiều chuối. Trước đây lão có đến mấy lần để bán cá, nhưng chẳng quen ai. Lão chợt đứng khựng lại không biết làm gì tiếp khi cô kia vào khuất trong nhà. Không thể cứ đường đột vào thẳng nhà người ta, lão nghĩ. Trời gần tối hẳn, trong nhà có ánh đèn dầu tù mù, dưới bếp hình như có ai đang nấu ăn. Lão tần ngần hồi lâu rồi ngập ngừng bước vào, dẫu xưa nay không là người nhút nhát. Thì cứ hỏi người ta có mua cá không, việc gì phải ngại.
Thấy có người, một bà già tập tễnh từ trong bếp đi ra, tay cầm chiếc que kều lửa. Ngôi nhà trống hoác, tuềnh toàng không có cửa. Lão Mục ngạc nhiên không thấy cô gái kia đâu. Hay mình nhầm nhà? Không thể được. Chính mắt lão nhìn thấy cô ta vừa rẽ vào đây mà.
- Bác hỏi ai ạ? - bà già lên tiếng.
          - Tôi bắt được ít cá, vào hỏi xem nhà ta có mua không, - lão đáp, tự lấy làm hài lòng với sự lưu loát của mình.
          - Không. Chẳng giấu gì bác, nhà tôi nghèo không có tiền. - Bà lão thở dài. - Đến bát gạo ăn còn phải đi xin người ta thì lấy đâu ra tiền mà mua cá.
          Nói đoạn, bà lão định bỏ vào bếp nhưng thấy khách chần chừ chưa đi, bèn nói thêm:
          - Hay bác vào trong nhà uống chén nước đã?
          Trên chiếc chõng tre ọp ẹp chính giữa nhà, lão Mục ngồi, bê bằng cả hai tay bát nước vối đầy rồi tu một hơi hết sạch, dù không khát. Nhà đang có tang, lão thoáng nghĩ khi nhìn lên chiếc bàn thờ cũng bằng tre có mấy nén hương đang cháy sau lớp vải màn mỏng ám khói. Trên bát hương là bức ảnh người chết, không lớn, và mặc dù đèn tù mù, lão vẫn nhận ra ngay đấy chính là cô gái đến xin cá mấy ngày vừa rồi. Lão ngạc nhiên đến giật thót cả người. Nếu bát nước chưa kịp đặt xuống thì chắc đã rơi xuống đất. Lão bỗng thấy sợ hãi, sợ đến tái mặt. May bà chủ nhà không nhìn thấy.
          - Con dâu tôi đấy. - Bà già nói khi thấy khách để ý nhìn bàn thờ. - Chưa đầy ba chục tuổi mà trời đã bắt chết. Ngày mai là vừa tròn ba tháng. Chồng nó còn bị trời bắt chết sớm hơn, khi hai đứa vừa lấy nhau được một năm. Chẳng hiểu sao ông trời ác độc thế. Thành ra bây giờ tôi, một thân già què quặt nuôi mình không nổi còn nuôi thêm đứa cháu năm tuổi... Có hôm phải nhịn vì chẳng có gì  ăn, vậy bác bảo tiền đâu mà cá với chả thịt...
          Đúng lúc ấy một đứa bé gái từ ngoài vườn đi vào, tay chân còn lấm bùn.
          - Có bắt được con nào không cháu? - bà nó hỏi.
          - Dạ có, - nó đáp  rồi xòe hai bàn tay.
          Lão Mục nhìn xuống thì thấy chính những con cá lão vừa cho cô gái lúc nãy.
          - Thế thì để bà xuống nấu cho mà ăn. Kho mặn, ăn với khoai luộc chắc ngon lắm. - Bà già nói rồi tập tễnh bước ra ngoài.
          Lão Mục cũng đứng dậy, chào bà chủ ra về.
          - Kể cũng lạ, - bà nói khi tiễn khách, - vũng nước tí xíu như chỗ trâu đầm sau nhà mà cũng có cá bác ạ. Không nhiều nhưng ngày nào cũng có. Âu cũng do trời phật muốn giúp bà cháu tôi, phải không bác?
          Lão Mục không đáp vì lúc ấy đã ra đến cửa. Lão đi như chạy một mạch về nhà, không một lần dám ngoái đầu nhìn lại. 
          Đêm ấy lão bán vội giỏ cá cho mụ Thắm chẳng thèm cò kè một xu nào. Bao nhiêu tiền lão đem mua rượu hết, uống say mèm rồi ngủ mê mệt đến tận quá trưa hôm sau mới dậy. Xế chiều, lão lại xách giỏ đến đồng Mồ. Tuy thầm sợ, lão vẫn cố ý chờ nhưng mãi không thấy cô kia tới. Liên tiếp mấy ngày sau cũng vậy. “Chắc mình làm cô ta sợ, lão nghĩ. Ma mà thấy động sẽ chẳng bao giờ xuất hiện trở lại”. Lão chẳng biết thế là tốt hay xấu, nhưng bỗng nhiên lão lại thấy buồn. Chẳng vì sao mà vẫn buồn, cái buồn mơ hồ, âm ỉ, day dứt và khó chịu. Có thể nói đây là lần đầu tiên trong cả cuộc đời dài chẳng lấy gì làm vui vẻ của mình, lão có cái cảm giác kỳ lạ ấy. Lão đâm ra hay rượu hơn và cũng hay suy nghĩ vẩn vơ hơn, đủ các chuyện chẳng đâu vào đâu.
          Khoảng một tuần sau, khi phần nào bình tĩnh trở lại, chọn lúc trời tối hẳn, ngày nào lão cũng tìm đến ngôi nhà tranh kia ở mép làng Xuân Tình, lén bỏ một ít tôm cá lão bắt được vào “vũng trâu đầm” sau vườn, rồi lén lút bỏ đi như tên trộm thực thụ. Cứ thế kéo dài mấy tháng cho đến khi lão chết cách đây không lâu. Nghe nói vì uống rượu say cảm gió. Cũng có người nói lão bị ma ám, nhưng chắc không phải thế.

                                                              Hà Nội, 6 tháng Tư, 2002

Thursday, April 2, 2015

NHỊ THẬP TỨ HIẾU



Hai mươi tư tấm gương hiếu thảo của người xưa.

LỜI NÓI ĐẦU

Cuốn Nhị Thập Tứ Hiếu
Được viết vào đời Nguyên.
Tác giả - Quách Cự Nghiệp,
Một túc nho, người hiền.

Hai mươi tư gương tốt
Về đạo hiếu xưa nay
Ông sưu tầm, chép lại,
Đưa vào cuốn sách này.

Ở nước ta, đời Nguyễn,
Dưới triều vua Gia Long,
Cử nhân Lý Văn Phức
Viết lại, rất thành công,

Thành song thất lục bát
Cả hăm tư bài này.
Được nhiều người truyền tụng
Và đọc tới ngày nay.

Tôi xin phép được chuyển
Thành thể thơ ngũ ngôn,
Nôm na và dễ hiểu,
Phù hợp với trẻ con.

Ca dao và truyện cổ
Gắn liền với tuổi thơ.
Thiếu nó, tâm hồn trẻ
Dễ thui chột, cằn khô.

Mong các bậc bố mẹ
Luôn ghi nhớ điều này.
Hãy đọc sách cho trẻ,
Đều đặn và hàng ngày.

Hiếu thảo là đức tính
Cần có ở mỗi người.
Trẻ được dạy từ nhỏ,
Sẽ hiếu thảo suốt đời.

1
NGU THUẤN

Vua tên hiệu là Thuấn,
Quốc hiệu là Đại Ngu.
Có cha là Cổ Tẩu,
Tức “mắt sáng mà mù”.

Vì cha Ngài gàn dở,
Không biết lý, biết tình,
Nên người đời gọi thế,
Lên án và coi khinh.

Mẹ Ngài bệnh, chết sớm.
Mẹ kế ác và lười.
Em cùng cha khác mẹ
Thì gian xảo hơn người.

Ba người độc ác ấy
Tìm cách hãm hại Ngài.
Nhưng vốn rất hiếu thảo,
Ngài không oán trách ai.

Vẫn một lòng tôn kính
Và cung phụng mẹ cha.
Cả với đứa em xấu,
Ngài vẫn rất ôn hòa.

Tấm gương hiếu thảo ấy
Làm cảm động đất trời.
Nên Ngài được phù hộ
Mọi lúc và mọi nơi.

Lần nọ bị bố bắt
Cày ruộng bên Lịch San,
Voi kéo đến cày giúp,
Chim nhặt cỏ từng đàn.

Lần khác, hồ Lôi Trạch
Đang gió lớn, sóng to,
Khi Ngài đến đánh cá,
Nước bỗng lặng như tờ.

Vua Nghiêu, khi hay chuyện,
Bèn truyền ngôi cho Ngài,
Còn gả hai con gái,
Xinh đẹp và lắm tài.

Mười tám năm, Ngu Thuấn
Nổi tiếng một vua hiền.
Chỉ gảy đàn và hát
Mà đất nước bình yên.

2
VĂN ĐẾ

Vua Văn Đế nhà Hán
Một vị vua anh minh,
Nổi tiếng rất hiếu thảo
Với bố mẹ của mình.

Mẹ Ngài, bà Bạc Hậu,
Ba năm ốm liệt giường.
Trong suốt ba năm ấy,
Ngài, một đấng quân vương,

Với áo bào ngũ sắc
Và vương miện trên đầu,
Lễ phép đứng bên cạnh,
Một mình, không người hầu.

Suốt đêm Ngài không ngủ,
Thay quần áo, đổ bô,
Lo thuốc thang cho mẹ,
Với nét mặt buồn lo.

Vì sợ có thuốc độc,
Trước khi mời mẹ ăn,
Ngài tự mình nếm trước,
Rồi dỗ dành ân cần.

Nhờ gương hiếu thảo ấy
Của vị vua anh minh,
Dân Hán cũng hiếu thảo
Và đất nước yên bình.

3
TĂNG TỬ

Tăng Tử người nước Lỗ,
Tự Tử Dư, tên Sâm,
Thời Xuân Thu Chiến Quốc,
Có tài và có tâm.

Ông là học trò giỏi
Của Khổng Tử, về sau
Thành tứ đại đồ đệ
Của thánh nhân Khổng Khâu.

Là người rất chí hiếu,
Ông chỉ chọn ăn rau,
Dành thịt cho cha mẹ,
Luôn kiên nhẫn đứng hầu.

Thức ăn thừa, không hết,
Cha mẹ bảo cho ai,
Ông đem cho người ấy,
Không bao giờ dám sai.

Một lần, nhà có khách
Đến thăm ông bất ngờ,
Mà ông thì đi vắng.
Làm thế nào bây giờ.

Mẹ ông muốn ông biết
Để nhanh chóng về nhà.
Bèn quay đầu lặng lẽ
Cắn vào ngón tay bà.

Dù ở đâu, bà nghĩ,
Khi mẹ cắn vào tay,
Thì người con chí hiếu
Cảm được cái đau này.

Quả đúng thế, Tăng Tử
Đang hái củi dưới khe,
Bỗng thấy lòng đau quặn
Liền vội vã quay về.

4
MẪN TỬ KHIÊN

Là học trò Khổng Tử,
Có đức và có tài.
Không may mẹ mất sớm,
Ông bố lấy vợ hai.

Bà này vốn độc ác,
Sinh được hai người con,
Cũng độc ác như mẹ.
Ông luôn bị ăn đòn.

Là một người có hiếu,
Ông luôn vâng lời cha.
Dù mẹ kế khắc nghiệt,
Ông vẫn kính trọng bà.

Lần nọ, trời giá rét,
Ông kéo chiếc xe bò
Chở cha đi công chuyện.
Trời rét, bước co ro.

Nhiều lần ông vấp ngã,
Thâm tím cả mặt mày.
Cuối cùng thì kiệt sức,
Ông cúi gục, buông tay.

Bố ông liền bước xuống,
Ôm con trai vào lòng.
Chỉ bấy giờ mới biết
Con không có áo bông.

Thì ra bà vợ kế
Bắt ông khoác bao đay.
Hai con bà thì khác,
Được mặc áo bông dày.

Ông tức giận, lập tức
Sai quay xe về nhà.
Thẳng tay đuổi bà vợ
Cùng hai con của bà.

Mẫn Tử Khiên thấy thế
Liền quỳ xuống mà rằng:
“Xin cha hãy nghĩ lại.
Trời đang đầy tuyết băng.

Cả ba người sẽ rét
Nếu bị đuổi ra đường.
Nếu họ được ở lại,
Thì là chuyện bình thường

Chỉ mình con chịu rét.
Con chịu được; đang đêm,
Xin cha hãy nghĩ lại,
Đừng đuổi mẹ và em.

Ông bố nghe, nguôi giận,
Không đuổi nữa, còn khen.
Về sau bà mẹ kế
Trở thành bà mẹ hiền.

5
DIỄM TỬ

Đời nhà Chu, Diễm Tử
Nổi tiếng thờ mẹ cha.
Nhà nghèo, thường đứt bữa.
Bà mẹ ông mù lòa

Một hôm buột miệng nói
Thèm uống sữa nai tươi.
Ông, lúc ấy còn nhỏ,
Bèn sang mượn nhà người

Bộ da nai còn mới,
Giả làm nai mói sinh,
Vào rừng tìm nai mẹ,
Vắt sữa cho mẹ mình.

Lần sau, cậu chợt thấy
Một bác thợ săn già
Dương cung định bắn cậu,
Liền vứt bỏ bộ da.

Bác thợ săn khen cậu
Ngoan, có hiếu, và rồi,
Săn con dê vừa bắn,
Bác hào phóng chia đôi.

7
LÃO LAI TỬ

Lão Lai người nước Sở,
Thời Xuân Thu; là con,
Ông đã bảy mươi tuổi
Mà bố mẹ vẫn còn.

Là người con chí hiếu,
Dù đã là ông già,
Ông vẫn rất tận tụy,
Chiều, cung phụng mẹ cha.

Ông mặc áo sặc sỡ,
Múa hát như trẻ con,
Hoặc giả vờ vấp ngã
Để bố mẹ không buồn.

Tấm gương hiếu thảo ấy
Được truyền tụng muôn đời.
Hiếu thảo là đức tính
Quí nhất ở con người.

8
ĐỔNG VĨNH

Sinh vào thời Hậu Hán,
Đồng Vĩnh, vốn nghèo hèn.
Bố chết, nhà trống rỗng,
Không gạo cũng không tiền.

Để lo bề chôn cất,
Chàng đến một nhà giàu,
Vay tiền, hứa sẽ trả
Bằng tiền dệt lụa màu.

Dệt đủ ba trăm tấm
Mà không lấy tiền công.
Sẽ bắt đầu làm việc
Ngay khi chôn cha xong.

Sau tang lễ, bất chợt,
Trên đường trở về nhà,
Bỗng có một cô gái
Xinh đẹp và nết na

Xin kết duyên chồng vợ.
Với điều kiện dệt xong
Cả ba trăm tấm lụa
Nàng mới về nhà chồng.

Cô gái xinh đẹp ấy
Đi đến nhà người giàu,
Ngồi xuống dệt, dệt hết
Ba trăm tấm lụa màu.

Rồi nhẹ nhàng, lặng lẽ,
Cô gái bay lên trời.
Nàng là một tiên nữ
Được phái xuống cõi người

Để giúp đỡ Đồng Vĩnh,
Chàng trai nặng nghĩa tình.
Không quản ngại vất vả
Lo chôn cất cha mình.

9
ĐƯỜNG THI

Đường Thi, người phụ nữ
Không chỉ giỏi thờ chồng,
Mà còn rất chí hiếu
Với bà cụ mẹ ông.

Bà cụ già, ốm yếu
Được nàng dâu thương yêu
Còn hơn cả mẹ đẻ,
Luôn chăm sóc sớm chiều.

Không ăn được cơm cứng
Vì răng đã lung lay,
Nàng tắm rửa sạch sẽ,
Cho cụ bú hàng ngay.

Mấy năm liền như thế,
Nhờ bú sữa của nàng,
Bà cụ vẫn khỏe mạnh,
Thậm chí da mịn màng.

Lúc chết, cảm ơn ấy,
Cụ khấn Phật anh linh
Cho ai cũng hiếu thảo
Như nàng dâu của mình.

Lời khấn đã công hiệu.
Nhà họ Thôi sau này
Con dâu đều hiếu thảo,
Hưởng lộc lớn, phúc dày.

11
THÁI THUẬN

Thái Thuận nhà nghèo khổ.
Từ bé mồ côi cha.
Thờ mẹ rất hiếu thảo,
Nổi tiếng khắp gần xa.

Một năm nọ, đói kém,
Lại đang buổi đao binh.
Ông vào rừng hái quả
Nuôi mẹ và nuôi mình.

Gặp một bụi dâu dại,
Những quả chín ngon lành
Ông để riêng một chỗ.
Chỗ khác để quả xanh.

Xích My, một tướng giặc,
Thấy, ngạc nhiên và rồi
Hỏi vì sao làm thế.
Sao phải chia làm đôi?

Ông đáp: “Những quả chín
Để dành cho mẹ ăn.
Những quả xanh và chát
Thì tôi ăn, nếu cần.

Tướng giặc khen có hiếu,
Tặng ông một thúng to
Loại gạo ngon và trắng,
Kèm thêm nửa đùi bò.

12
ĐINH LAN

Sớm mồ côi cha mẹ,
Đời nhà Hán, Đinh Lan
Nổi tiếng rất có hiếu
Và là đứa con ngoan.

Ông thuê người tạc tượng
Của cả mẹ và cha.
Đặt hai bức tượng gỗ
Trên bàn thờ giữa nhà.

Ngày cơm dâng hai bữa.
Tối sửa soạn gối chăn.
Hệt như ngày còn sống,
Hầu hạ rất ân cần.

Mấy chục năm như thế.
Vợ ông sinh nản lòng,
Lấy que nhọn châm mạnh
Vào tượng mẹ cha ông.

Chỗ châm ứa máu đỏ.
Hầu cơm như hàng ngày,
Ông thấy hai bức tượng
Rớm nước mắt, chau mày.

Biết thủ phạm là vợ,
Mặc dù rất yêu bà,
Ông xin lỗi bố mẹ,
Rồi đuổi vợ khỏi nhà.

13
LỤC TÍCH

Lục Tích người Đông Hán,
Lên sáu tuổi theo cha
Thăm quan lớn Viên Thuật
Ở Cửu Giang, Nhị Hà.

Trên bàn tiệc hôm ấy,
Có đĩa quýt, khi ăn
Cậu nhón lấy hai quả
Rồi cho vào túi quần.

Lúc về, cúi chào chủ,
Hai quả quít rơi ra.
Viên Thuật thấy, đùa hỏi:
“Sao lấy quít của ta?”

Cậu đáp rất thành thật:
“Mẹ cháu ốm đã lâu.
Cháu biết bà thèm quýt,
Đem về, có sao đâu.

Vả lại, phần của cháu
Cháu không ăn, hôm nay
Cháu mang về cho mẹ
Hai quả quít ngon này.

Viên Thuật nghe, cảm động,
Còn cho thêm nhiều quà.
Đích thân ra tận ngõ
Tiễn hai người về nhà.

15
HOÀNG HƯƠNG

Hoàng Hương, đời Đông Hán,
Nổi tiếng tốt là người
Rất chí hiếu - mẹ chết,
Khóc thương mấy tháng trời.

Từ đấy ông, chín tuổi,
Một mình sống với cha.
Hầu hạ cha rất mực,
Đảm đang hết việc nhà.

Mùa hè, ngày nóng bức,
Ông đứng quạt bên giường.
Mùa đông không củi sưởi,
Sợ cha lạnh, Hoàng Hương

Quấn chăn vào người trước,
Rồi nhảy múa khắp nhà.
Chờ đến khi chăn ấm
Mới đem đắp cho cha.

Quan thái thú cảm động
Bèn viết sớ tâu lên.
Vua Hán ban bốn chữ
Là “Người con hiếu hiền”.

16
VƯƠNG THÔI

Vương Thôi người nước Ngụy.
Cha làm quan, về sau
Tây Tấn diệt nước Ngụy,
Cha ông bị chém đầu.

Hàng ngày, lòng đau xót,
Ông phủ phục bên mồ,
Khóc đến mức nước mắt
Làm sống lại cỏ khô.

Vì căm ghét Tây Tấn,
Mãi mãi về sau này
Không một lần, thà chết,
Ngoảnh nhìn về phía Tây.

Vua Tây Tấn xuống chiếu
Mời ông làm quan to.
Ông dứt khoát từ chối,
Ở nhà làm thầy đồ.

17
NGÔ MÃNH

Ngô Mãnh, đời nhà Tấn,
Rất hiếu với mẹ cha.
Lên tám tuổi, nghèo đói,
Không màn, muỗi đầy nhà.

Ông cởi trần nằm ngủ,
Muỗi cắn vẫn nằm yên.
Sợ xua, muỗi bay đến
Cắn bỗ mẹ nằm bên.

18
SƯU KIỀM LÂU

Ở nước Tề, Trung Quốc,
Có chàng Sưu Kiềm Lâu
Được bổ làm tri huyện
Một huyện nhỏ vùng sâu.

Xe ngựa vừa mới đến,
Nhậm chức được mười ngày.
Ông bỗng thấy lo lắng.
Mồ hôi ướt lòng tay.

Linh tính chắc có việc
Không lành với mẹ cha,
Ông treo mũ, từ chức
Vội vã quay về nhà.

Cha ông, quả đúng thế,
Đang ốm, nằm liệt giường.
Thầy thuốc nói: Người bệnh
Phân đắng là bình thường.

Phân ngọt là bệnh nặng.
Ông liền nếm thân cha.
Thấy ngọt, rất lo lắng,
Đêm đêm ra hồi nhà

Thắp hương khấn Bắc Đẩu,
Cầu xin được chết thay,
Vừa cấu khấn vừa khóc
Liên tục mấy đêm ngày.

Một hôm mệt, ngủ thiếp,
Ông thấy có vị quan
Trao chiếc thẻ có chữ
Là “Sắc Tứ Bình An”.

Tỉnh dậy, ông cúi đọc
Bốn chữ trên thẻ vàng.
Hôm sau bố ông khỏi
Mà không cần thuốc thang.

24
HOÀNG ĐÌNH KIÊN

Đời nhà Đường, Trung Quốc,
Có ông Hoàng Đình Kiên,
Làm đến chức Thái Sử,
Nhà lắm ruộng, nhiều tiền.

Đầy tớ lại càng lắm.
Nhưng tự ông hàng ngày
Đổ bô cho bố mẹ.
Quần áo tự ông thay.

Cũng tự ông nấu nướng,
Cơm nước cho hai người.
Tự ông rửa bát đĩa.
Không kêu ca một lời.


LỜI KẾT

Đức Phật đã từng dạy,
Ghi trong nhiều bộ kinh -
Với cha mẹ, con cái
Phải có hiếu, có tình.

Đạo làm người, chữ Hiếu
Là cao quí nhất đời.
Người mà không biết hiếu
Thì không phải là người.

Hãy dâng lòng hiếu thảo
Cúng Phật và chư tăng.
Trong các quà dâng cúng
Quả không có gì bằng.